Trở lại   CLB Chim Cảnh Lan Anh > Trao đổi kinh nghiệm > Các loại chim cảnh

Các loại chim cảnh Các loại chim cảnh phổ biến và độc đáo


Trả lời
 
Công cụ bài viết Kiểu hiển thị
  #1  
Cũ 07-09-2010, 12:53 AM
Avatar của hoangquangtuan
hoangquangtuan hoangquangtuan đang ẩn
 
Tham gia ngày: May 2010
Bài gửi: 725
Thanks: 224
Thanked 758 Times in 343 Posts
Mặc định Danh mục Chim trong sách đỏ động vật Việt Nam

Ác là Pica pica sericera gould, 1845 E
Bồ câu nâu Columba punicea (Blyth, 1842) T
Bồ câu Nicoba Caloenas nicobarica nicobarica (Linnaeus, 1758) T
Bồ nông chân xám Pelecanus philippensis Gmelin, 1789 R
Bói cá lớn Ceryle lugubris guttulata Stejneger, 1892 T
Bồng chanh rừng Alcedo hercules Laubmann, 1917 T
Chim điên bụng trắng Sula leucogaster poltus (Forster, 1844) T
Chim yến hàng Collocalia fuciphaga germaini Oustalet, 1871 T
Chim yến núi Collocalia brevirostris innominata Hume, 1873 R
Cò Á châu Xenorhynchus asiaticus (Latham, 1790) E
Cò lạo Ấn Độ Mycteria leucocephala (Pennant, 1769) R
Cò lạo xám Mycteria cinerea (Raffles, 1882) V
Cò nhạn Anastomus oscitans (Boddaert, 1783) R
Cò quăm cánh xanh Pseudibis davisoni (Hume, 1875) V
Cò quăm lớn Psendibis gigantea (Oustalet, 1877) E
Cò thìa Platalea mino Temmink et Schlegel, 1849 R
Công Pavo muticus imperator Delacour, 1949 E
Cu xanh Seimun Treron seinundi modestus (Delacour, 1926) R
Đuôi cụt bụng đỏ Pitta nympha Temminck et Schlegel, 1850 R
Đuôi cụt bụng vằn Pitta ellioti Oustalet, 1784 T
Đuôi cụt đầu đỏ Pitta cyanea willoughbyi Delacour, 1926 R
Đuôi cụt nâu Pitta phayrei obscura Delacour, 1927
Gõ kiến xanh đầu đỏ Picus rabieri (Oustalet, 1898) T
Hạc cổ trắng Ciconia episcopus (Bodaert, 1783)
Hồng hoàng Buceros bicornis Linnaeus, 1758
Khách đuôi cờ Temnurus temnurus Temminck, 1825
Khướu đầu đen Garrulax milleti Robinson et Klos, 1919 R
Khướu đầu đen má xám Garrulax yersini (Robinson et Kloss, 1919) R
Khướu đầu xám Garrulax vassali (Grant, 1906) T
Khướu đuôi đỏ Garrulax formosus greenwayi Delacour et Jabouille, 1930 R
Khướu mỏ dài Jabouillea danjoui (Robinson et Klos, 1919) T
Khướu mỏ dẹt lưng đen Paradoxornis davidianus tonkinensis (Delacour, 1927) T
Khướu mỏ dẹt to Paradoxornis ruficeps magnirostris (Delacour, 1927) T
Khướu ngực đốm Garrulax merulinus R
Khướu vẩy Garrulax squamatus (Gould, 1835 ) R
Khướu xám Garrulax maesi maesi (Oustalet, 1890)
Mi Langbian Crocias langbianis (Goldenstolpe, 1939)
Mòng bể mỏ đen Larus saundersi, 1871
Nhàn đầu xám Anous stolidus pileatus (Scopoli, 1786) T
Nhàn mào Sterna bergii cristata Stephens, 1826
Niệc cổ hung Aceros nipalensis (Hodgson, 1829) E
Niệc đầu trắng Berennicornis comatus (Raffles, 1822) E
Niệc mỏ vằn Rhyticeros undulatus ticehursti (Deignan, 1914) T
Niệc nâu Ptilolaemus tickelli indochinensis (Delacour et Jabouille, 1927)
Ô tác Eupodotis bengalensis blandini Delacour, 1928 V
Phướn đất Carpococcyx renauldi (Oustalet, 1896) T
Quạ khoang Corvus torquatus Lesson 1831
Sả hung Halcyon coromando coromando (Latham, 1790) R
Sả mỏ rộng Pelargopsis capensis burmanica (Sharp, 1870)
Sẻ thông họng vàng Carduelis monguilloti (Delacour, 1927) T
Sếu cổ trụi Grus antigone sharpii Blanfordii, 1929
Trĩ đỏ Phasianus colchicus Linnaeus, 1758 R
Trĩ sao Rheinartia ocellata ocellata (Elliot, 1871)
Trèo cây lưng đen Sitta formosa Blyth, 1843 T
Trèo cây mỏ vàng Sitta solangiae. (Delacour et Jabouille, 1930)
Vạc hoa Gorsachius magnificus (Ogilvie Grant, 1899)


Hồng hoàng Buceros bicornis Linnaeus


Phướn đất Carpococcyx renauldi


Trèo cây mỏ vàng Sitta solangiae


Gõ kiến xanh đầu đỏ Picus rabieri

Lần sửa cuối bởi hoangquangtuan; 07-09-2010 lúc 01:11 AM
Trả lời với trích dẫn
Đã có 4 Thành viên Cảm ơn hoangquangtuan cho bài viết này:
Chimvanhkhuyen_hay (06-22-2011), dathtv (07-09-2010), hcthai (03-23-2011), HLA (07-09-2010)
  #2  
Cũ 07-09-2010, 12:08 PM
Avatar của HLA
HLA HLA đang ẩn
 
Tham gia ngày: Jun 2010
Bài gửi: 3.243
Thanks: 523
Thanked 5.019 Times in 625 Posts
Mặc định Mua bán giống chim trong sách đỏ: Cần phải ngăn chặn!

Được mệnh danh là “chúa tể trời xanh”, gần đây chim đại bàng ồ ạt về phố. Những chú đại bàng con được mua bán công khai ở một số ngã đường tại TP.HCM. Tình trạng này đã và đang gióng lên hồi chuông cảnh báo về giống chim nằm trong sách đỏ đang dần bị tận diệt.

Chợ… chim “sách đỏ”
Đã lâu tôi không ghé nhà một anh bạn. Hôm ấy, anh khoe trên yahoo “chát” về con đại bàng mà anh mới tậu được. Theo anh, đấy không phải là chú đại bàng bình thường được bày bán công khai ở ngoài phố mà được mua từ núi rừng Tây Nguyên, nó có dáng vẻ uy lực, dũng mãnh, bộ lông mượt mà và đã hơn 4 năm tuổi. Để có được chú đại bàng này, anh bạn tôi phải mất hơn 20 triệu đồng và kiên nhẫn chờ đợi suốt 7 năm trời. Đại bàng không hiếm nhưng tìm một con có vóc dáng, tuổi đời và đặc biệt là hoang dã thật sự rất hiếm. Những người chơi đại bàng khác thường xách chiếc lồng đến chỗ này, chỗ kia để khoe “đẳng cấp” của mình, còn anh bạn tôi cho rằng làm vậy sẽ dần mất đi cái hoang dã mà anh vốn cất công đi tìm. Anh khẳng định: “Trong tương lai, tôi sẽ sưu tập bầy đại bàng với nhiều chủng loại. Không ít người thấy tôi chơi đại bàng lại có cái nhìn khác về chủ nhân của nó. Trong mắt họ, tôi là người khó gần vì đại bàng là biểu tượng của những đại ca chuyên cho vay nặng lãi hoặc đâm thuê chém mướn. Nhưng với tôi, đại bàng là thần hộ mạng”. Ai ai cũng biết, đại bàng là một loài chim quý nhưng không vì thế mà khó sở hữu được nó. Theo chỉ dẫn của anh Nguyễn Tấn Hoàng - người mà anh bạn tôi theo “tầm sư” để học cách nuôi đại bàng thì: “Muốn sở hữu một chú đại bàng, nhiều người cứ ra đường Nguyễn Thị Minh Khai (quận 1) là có. Song, đại bàng mua ở đây thường chỉ vài ngày là chết vì đa phần là đại bàng con, sức yếu, người bán không biết cách chăm sóc…”. Theo chỉ dẫn, tôi đến khu vực ngã tư Nguyễn Thị Minh Khai - Lê Quý Đôn (quận 3), người bán ngồi hai bên đường với rất nhiều đại bàng con ngơ ngác bị xích chân vào các chiếc lồng sắt. Có chú nhanh nhẹn giật dây nhảy nhót, có chú không còn đủ sức sau một thời gian dài cố bức ra khỏi sợi dây kia. Theo những “tay” mua bán đại bàng, nơi đây được mệnh danh là chợ… sách đỏ.
Ngăn cấm có được?
Ghé vào một “cửa hàng” tại khu vực ngã tư Nguyễn Thị Minh Khai - Lê Quý Đôn, tôi không tin vào mắt mình, ở đây như một khu rừng thu nhỏ giữa phố với đủ loại chim chóc và có cả những chú sóc con. Tôi hỏi giá một chú đại bàng nhỏ, chừng vài tháng tuổi. Người bán hàng ra vẻ rất chuyên nghiệp: “Con này gần 1kg, nếu anh thích em để giá hữu nghị 1,8 triệu đồng”. Tôi giả vờ không mang đủ tiền để vọt lẹ thì người bán hàng lại tiếp thị: “Chị không giấu gì em, ông xã chị quê ở Tây Nguyên, đại bàng mua từ trên ấy tuần rồi, giá 1,8 triệu đồng không cao đâu”.
Anh bạn tôi mách, những tay bán, chơi chim thường lui tới quán cà phê chim trong Công viên Văn hóa Tao Đàn vì đây cũng là địa chỉ cung cấp chim đại bàng có uy tín. Theo anh Trần Kế, thành viên của câu lạc bộ sinh vật cảnh TP.HCM, đại bàng khoảng 1kg có giá không dưới 4 triệu đồng/cặp. Việc sở hữu một con đại bàng đơn giản lắm, quan trọng nhất là anh có nuôi nó nổi không?
Theo tìm hiểu, việc nuôi đại bàng khó hơn cả nuôi chó bẹc-giê. Khẩu phần ăn của đại bàng là thịt bò, nước suối. Lúc còn nhỏ, một lần ăn (ngày ăn từ 4 đến 5 lần) người nuôi phải mất 1g thịt bò, đại bàng từ 1kg trở lên có thể tiêu thụ gấp đôi lượng thức ăn bình thường. Đại bàng khó thích nghi với môi trường nuôi nhốt nên người nuôi dưỡng đại bàng trong một thời gian dài được xem là người có “tay nuôi” và người này bỗng dưng đắt giá bởi sẽ có nhiều người thuê về chăm sóc đại bàng thay họ. Chơi đại bàng là một thú chơi thời thượng, thể hiện đẳng cấp của người nuôi. Song, người chơi quên rằng chính họ đã gián tiếp tiêu thụ giống chim quý trong sách đỏ Việt Nam. Các cơ quan chức năng cần có biện pháp ngăn chặn tình trạng mua bán đại bàng nhằm cứu nguy giống chim trong sách đỏ đã và đang dần bị tận diệt.

Trần An

Không chỉ bày bán ngoài đường, đại bàng còn được rao bán công khai trên mạng. Chúng ta dễ dàng bắt gặp những lời rao: Bán đại bàng thuần hóa, không hung dữ, không phải lo lắng khi nhà có trẻ con.
Trả lời với trích dẫn
Đã có 4 Thành viên Cảm ơn HLA cho bài viết này:
dathtv (07-09-2010), hoangquangtuan (07-09-2010), mychki7679 (07-13-2010), vầng trăng phiêu lãng 62 (04-22-2012)
  #3  
Cũ 07-09-2010, 01:22 PM
Avatar của hoangquangtuan
hoangquangtuan hoangquangtuan đang ẩn
 
Tham gia ngày: May 2010
Bài gửi: 725
Thanks: 224
Thanked 758 Times in 343 Posts
Mặc định

cần có nhiều bài viết như vậy. Cám ơn HLA nhiều.

Thân
Trả lời với trích dẫn
  #4  
Cũ 07-09-2010, 04:57 PM
dathtv dathtv đang ẩn
Moderator
 
Tham gia ngày: Jun 2010
Bài gửi: 62
Thanks: 363
Thanked 409 Times in 56 Posts
Mặc định

Vài ảnh cùng gia đình tham quan Du Lịch Vườn Xoài (Đồng Nai)tết năm rồi ,ở đây đa số nuôi những loài chim lớn và được nuôi trong môi trường thiên nhiên khá tốt .

Loài này nhìn rất dữ ,có sải cánh dài gần 2 m








thấy Vịt Trời lót ổ dưới lớp cỏ khô.
Trả lời với trích dẫn
Đã có 4 Thành viên Cảm ơn dathtv cho bài viết này:
HLA (07-14-2010), hoangquangtuan (07-09-2010), mychki7679 (07-13-2010), Than Dieu dai Hiep (07-09-2010)
  #5  
Cũ 08-10-2010, 07:30 PM
Cung To Chieu Cung To Chieu đang ẩn
 
Tham gia ngày: Jul 2010
Bài gửi: 25
Thanks: 32
Thanked 23 Times in 14 Posts
Mặc định

TỔNG QUAN VỀ SÁCH ĐỎ
Mô tả:

Sách đỏ (Red Data Book) được coi là tài liệu có tính chất quốc gia và mang ý nghiã quốc tế, công bố các loài động vật, thực vật thuộc loại quí hiếm ở mỗi nước và trên toàn thế giới đang bị đe dọa giảm sút số lượng hoặc đã có nguy cơ bị tuyệt chủng cần được bảo vệ, phục hồi và phát triển. Đây là cơ sở khoa học, tạo cơ sở pháp lý cho việc đề xuất, quyết đinh các biện pháp bảo vệ, phục hồi đồi với từng đối tượng thuộc loại này, đồng thời cũng là căn cứ đề xử lý các hành vi phá hoại thiên nhiên, gây tác hại cho sự tồn tại, phát triển của các loài sinh vật cần được bảo vệ trong hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên sinh vật ở mỗi nước...

Việc công bố Sách đỏ, vì vậy, có tác dụng hướng dẫn, thúc đẩy công tác bảo vệ tài nguyên sinh vật thiên nhiên ở mỗi quốc gia. Đây cũng là tài liệu khoa học dược sử dụng vào việc soạn thảo và ban hành các qui định, luật pháp của Nhà nước về bảo vệ tài nguyên sinh vật thiên nhiên, tính đa dạng sinh học và môi trường sinh thái.

I. CÁC TIÊU CHUẨN ĐÁNH GIÁ TÌNH TRẠNG CÁC LOẠI ĐƯA VÀO SÁCH ĐỎ VIỆT NAM (Các tiêu chuẩn do tổ chức quốc tế về bảo tồn thiên nhiên và tài nguyên thiên nhiên IUCN đề xuất)

Các cấp đánh giá chính:

ENDANGERED (E) Đang nguy cấp (đang bị đe doạ tuyệt chủng) Là những taxon đang bị đe doạ tuyệt chủng và không chắc còn có thể tồn tại nếu các nhân tố đe doạ cứ tiếp diễn. Gồm những taxon có số lượng giảm đến mức báo động ở trong điều kiện sống bị suy thoái mạnh mẽ đến mức có thể bị tuyệt chủng.

VULNERABLE (V) Sẽ nguy cấp (có thể bị đe doạ tuyệt chủng). Là những taxon xắp bị đe doạ tuyệt chủng (trong tương lai gần) nếu các nhân tố đe doạ cứ tiếp diễn. Gồm những taxon mà phần lớn hoặc tất cả các quần thể cuả nó đã bị giảm vì khai thác quá mức, vì nơi sống bị phá hoại mạnh mẽ hoặc do các biến động khác cuả môi trường sống. Cũng gồm những taxon tuy số luượng còn khá nhưng vì chúng có giá trị kinh tế lớn nên việc tìm bắt, khai thác được tiến hành thường xuyên ờ mọi nơi, dễ đưa tới bị đe dọa.

RARE (R) Hiếm (có thể có nguy cấp) Gồm những taxon có phân bổ hẹp (nhất là những chi đơn loài) có số lượng ít, tuy hiện tại chưa phải là đối tượng đang hoặc sẽ bị đe doạ, nhưng sự tồn tại lâu dài của chúng ta mỏng manh.

Các cấp đánh giá khác:

Ngoài ba cấp chính trên đây, khi soạn thảo - Sách đỏ Việt Nam cón sử dụng một trong các cấp sau:

THREATENED (T) - Bị đe doạ. Là những taxon thuộc một trong những cấp trên, nhưng chưa đủ tư liệu để xếp chúng vào cấp cụ thể nào.

INSUFFCIENTLY KNOWN (K) - Biết không chính xác. Là những taxon nghi ngờ và không biết chắc chắn chúng thuộc loại nào trong các cấp trên vì thiếu thông tin. các loại nêu trong cấp này để hy vọng chờ các tác giả xác định mức cụ thế của chúng.

II. CÁC TIÊU CHUẨN ĐÁNH GIÁ TÌNH TRẠNG CÁC LOÀI ĐƯA VÀO SÁCH ĐỎ IUCN
(The IUCN Red List of Threatened Animals)

Tổ chức bảo tồn thiên nhiên thế giới (Intemational Union of Conservation of Nature and Natural resources - IUCN) và trung tâm giám sát bảo tồn quốc tế (World Conservation Monitoring Center- WCMC) đã xây dựng những quy định vế tình trạng các loài có nguy cơ tuyệt chủng và các danh mục xếp mục đe doạ của các loài. Sự xếp bậc này căn cứ vào các dữ liệu về phân loại học (Taxonomy), tình trạng quần thể (Population status), xu hướng quần thể (Population trends), sự phân bố (Distribution), tình trạng sinh cảnh (Habitat availability), xu hướng địa lý (Geographic trends) và các mối đe doạ (Threats) và tham khảo ý kiến của các chuyên gia phân loại học, các chuyên gia về các họ động vật riêng biệt của IUCN và của các nhà khoa học các nước. Sự xếp bậc này cũng xem xét tình hình pháp luật liên quan của các nước có loài trên phân bố.

Trong khi điều tra xác định tình trạng các loài, IUCN luôn xem xét lại các thông tin cũ, cập nhật 2 năm một lần và phổ biến rộng rãi. IUCN còn nghiên cứu để sửa nội dung và nguyên tắc xác định tình trạng các loài để đáp ứng những đòi hỏi mới. Năm 1994, IUCN đã sử dụng một số nguyên tắc mới để xác định tình trạng các loài bị đe dọa. Năm 1996, danh mục mới được bổ xung những chi tiết cụ thể về tình trạng các loài và phân chia theo các cấp độ sau:



1. EX - Tuyệt chủng - Extinct
Một taxon được coi là tuyệt chủng khi không còn nghi ngờ là cá thể cuối cùng của taxon đó đã chết.
2. EW - Tuyệt chủng ngoài thiên nhiên - Extinct in the wild
Một taxon được coi là tuyệt chủng ngoài thiên nhiên khi chỉ còn thấy trong điều kiện gây trồng, nuôi nhốt (in captivity) hoặc chỉ là một (hoặc nhiều) quần thể đã tự nhiên hóa trở lại bên ngoài vùng phân bố cũ.
3. CR - Rất nguy cấp - Critically Endangered
Một taxon được coi là rất nguy cấp khi đang đứng trước một nguy cơ cực kỳ lớn sẽ bị tuyệt chủng ngoài thiên nhiên trong một tương lai trước mắt, được xác định bởi một tiêu chuẩn bất kỳ nào dưới đây (A-E).
A. Sự suy giảm quần thể dưới bất kỳ dạng nào dưới đây:
1. Suy giảm ít nhất 80% theo quan sát, ước tính, suy đoán hoặc phỏng đoán trong 10 năm cuối hoặc 3 thế hệ cuối (lấy khoảng thời gian nào dài nhất) dựa trên (và xác định được) một trong các điểm dưới đây:
(a). Quan sát trực tiếp.
(b). Chỉ số về sự phong phú thích hợp với taxon đó.
(c). Sự suy giảm nơi cư trú, khu phân bố hoặc chất lượng nơi sinh cư.
(d). Mức độ khai thác hiện tại hoặc khả năng.
(e). ảnh hưởng của các taxon di nhập, lai tạo, dịch bệnh, chất ô nhiễm, vật cạnh tranh,
hoặc ký sinh.

2. Suy giảm ít nhất 80%, theo dự đoán hoặc phỏng đoán, sẽ xảy ra trong 10 năm tới hoặc 3 thế hệ tới (lấy khoảng thời gian nào dài nhất), dựa trên (và xác định được) một trong các điểm (b), (c), (d) hoặc (e) trên đây.
B. Khu phân bố ước tính dưới 100km2, hoặc nơi cư trú ước tính dưới 10km2, ngoài ra còn chỉ ra được ít nhất 2 trong các điểm sau đây:
1. Bị chia cắt nghiêm trọng hoặc chỉ tồn tại ở một điểm.
2. Suy giảm liên tục, theo quan sát, suy đoán hoặc dự đoán, của một trong các yếu tố sau:
(a). Khu phân bố.
(b). Nơi cư trú.
(c). Phạm vi hoặc chất lượng nơi sinh cư.
(d). Số địa điểm tìm thấy hoặc số tiểu quần thể.
(e). Số lượng cá thể trưởng thành.
3. Dao động cực lớn của một yếu tố bất kỳ nào dưới đây:
(a). Khu phân bố.
(b). Nơi cư trú.
(c). Số địa điểm tìm thấy hoặc số tiểu quần thể.
(d). Số lượng cá thể trưởng thành.
C. Quần thể ước tính chỉ dưới 250 cá thể trưởng thành và một trong các điểm dưới đây:
1. Suy giảm liên tục ít nhất 25% trong 3 năm cuối hoặc trong thế hệ cuối (lấy khoảng thời gian nào dài nhất) hoặc:
2. Suy giảm liên tục, theo quan sát, dự đoán hoặc suy đoán về số lượng cá thể trưởng thành và cấu trúc quần thể dưới một trong các dạng sau:
(a). Bị chia cắt nghiêm trọng (nghĩa là không một tiểu quần thể nào ước tính có trên 50 cá thể trưởng thành).
(b). Tất cả các cá thể chỉ ở trong một tiểu quần thể duy nhất.
D. Quần thể ước tính chỉ dưới 50 cá thể trưởng thành.
E. Phân tích định lượng cho thấy xác suất bị tuyệt chủng ngoài thiên nhiên ít nhất là 50%
trong 10 năm hoặc 3 thế hệ (lấy khoảng thời gian nào dài nhất).
4. EN - nguy cấp - Endangered
Một taxon được coi là nguy cấp khi chưa phải là rất nguy cấp nhưng đang đứng trước
(c). Phạm vi hoặc chất lượng nơi sinh cư.
(d). Số địa điểm tìm thấy hoặc số tiểu quần thể.
(e). Số lượng cá thể trưởng thành.
3. Dao động cực lớn của một yếu tố bất kỳ nào dưới đây:
(a). Khu phân bố.
(b). Nơi cư trú.
(c). Số địa điểm tìm thấy hoặc số tiểu quần thể.
(d). Số lượng cá thể trưởng thành.
C. Quần thể ước tính dưới 2500 cá thể trưởng thành và một trong các điểm dưới đây:
1. Suy giảm liên tục ước tính ít nhất 20% trong 5 năm cuối hoặc 2 thế hệ cuối (lấy khoảng thời gian nào dài nhất) hoặc:
2. Suy giảm liên tục, theo quan sát, dự đoán hoặc suy đoán về số lượng cá thể trưởng thành và cấu trúc quần thể dưới một trong các dạng sau:
(a). Bị chia cắt nghiêm trọng (nghĩa là không một tiểu quần thể nào ước tính có trên 250 cá thể trưởng thành).
(b). Tất cả các cá thể chỉ ở trong một tiểu quần thể duy nhất.
D. Quần thể ước tính chỉ dưới 250 cá thể trưởng thành.
E. Phân tích định lượng cho thấy xác suất bị tuyệt chủng ngoài thiên nhiên ít nhất là 20% trong 20 năm tới hoặc 5 thế hệ tới (lấy khoảng thời gian nào dài nhất).
5. VU - sẽ nguy cấp - Vulnerable
Một taxon được coi là sẽ nguy cấp khi chưa phải là rất nguy cấp hoặc nguy cấp nhưng đang đứng trước một nguy cơ lớn sẽ bị tuyệt chủng ngoài thiên nhiên trong một tương lai tương đối gần, được xác định bởi một tiêu chuẩn bất kỳ nào dưới đây (A-E).
A. Suy giảm quần thể dưới bất kỳ dạng nào dưới đây:
1. Suy giảm ít nhất 20%, theo quan sát, ước tính, suy đoán hoặc phỏng đoán trong 10 năm cuối hoặc 3 thế hệ cuối (lấy khoảng thời gian nào dài nhất) dựa trên (và xác định được) một trong những điểm dưới đây:
(a). Quan sát trực tiếp.
(b). Chỉ số về sự phong phú thích hợp đối với taxon đó.
(c). Sự suy giảm nơi cư trú, khu phân bố và/hay chất lượng nơi sinh cư.
(d). Mức độ khai thác hiện tại hoặc khả năng.
(e). Tác động của các taxon di nhập, lai tạo, dịch bệnh, chất ô nhiễm, vật cạnh
tranh hoặc ký sinh.
2. Suy giảm ít nhất 20%, theo dự đoán hoặc phỏng đoán, sẽ xảy ra trong 10 năm tới hoặc 3 thế hệ tới (lấy khoảng thời gian nào dài nhất), dựa trên (và xác định được) một trong các điểm (b), (c), (d) hoặc (e) trên đây.
B. Khu phân bố ước tính dưới 20.000km2, hoặc nơi cư trú ước tính dưới 2000km2, ngoài ra còn chỉ ra được ít nhất 2 trong các điểm dưới đây:
1. Bị chia cắt nghiêm trọng hoặc chỉ tồn tại ở không quá 10 điểm.
2. Suy giảm liên tục, theo quan sát, suy đoán hoặc dự đoán, của một trong các yếu tố sau:
(a). Khu phân bố.
(b). Nơi cư trú.
(c). Khu phân bố, nơi cư trú và/hoặc chất lượng nơi sinh cư.
(d). Số địa điểm tìm thấy hoặc số tiểu quần thể.
(e). Số lượng cá thể trưởng thành.
3. Dao động cực lớn của một yếu tố bất kỳ nào dưới đây:
(a). Khu phân bố.
(b). Nơi cư trú.
(c). Số địa điểm hoặc số tiểu quần thể.
(d). Số lượng cá thể trưởng thành.

một nguy cơ rất lớn sẽ bị tuyệt chủng ngoài thiên nhiên trong một tương lai gần, được xác định bởi một tiêu chuẩn bất kỳ nào dưới đây (A-E).
A. Suy giảm quần thể dưới bất kỳ dạng nào dưới đây:
1. Suy giảm ít nhất 50%, theo quan sát, ước tính, suy đoán hoặc phỏng đoán trong 10 năm cuối hoặc 3 thế hệ cuối (lấy khoảng thời gian nào dài nhất) dựa trên (và xác định được) một trong những điểm dưới đây:
(a). Quan sát trực tiếp.
(b). Chỉ số về sự phong phú thích hợp đối với taxon đó.
(c). Sự suy giảm nơi cư trú, khu phân bố và/hay chất lượng nơi sinh cư.
(d). Mức độ khai thác hiện tại hoặc khả năng.
(e). Tác động của các taxon di nhập, lai tạo, dịch bệnh, chất ô nhiễm, vật cạnh tranh hoặc ký sinh.
2. Suy giảm ít nhất 50%, theo dự đoán hoặc phỏng đoán, sẽ xảy ra trong 10 năm tới hoặc 3 thế hệ tới (lấy khoảng thời gian nào dài nhất), dựa trên (và xác định được) một trong những điểm (b), (c), (d) hoặc (e) trên đây.
B. Khu phân bố ước tính dưới 5000km2, hoặc nơi cư trú ước tính dưới 500km2, ngoài ra còn chỉ ra được ít nhất 2 trong các điểm dưới đây:
1. Bị chia cắt nghiêm trọng hoặc chỉ tồn tại ở không quá 5 điểm.
2. Suy giảm liên tục, theo quan sát, suy đoán hoặc dự đoán, của một trong các yếu tố sau:
(a). Khu phân bố.
(b). Nơi cư trú.
C. Quần thể ước tính dưới 10.000 cá thể trưởng thành và một trong các điểm dưới đây:
1. Suy giảm liên tục, ước tính ít nhất 10% trong 10 năm cuối hoặc 3 thế hệ cuối (lấy khoảng thời gian nào dài nhất) hoặc:
2. Suy giảm liên tục, theo quan sát, dự đoán hoặc suy đoán về số lượng cá thể trưởng thành và cấu trúc quần thể dưới một trong các dạng sau:
(a). Bị chia cắt nghiêm trọng (nghĩa là không một tiểu quần thể nào ước tính trên 1000 cá thể trưởng thành).
(b). Tất cả các cá thể chỉ ở trong một tiểu quần thể duy nhất.
D. Quần thể rất nhỏ hoặc thu hẹp lại dưới một trong các dạng sau:
1. Quần thể ước tính chỉ dưới 1000 cá thể trưởng thành.
2. Đặc trưng bởi sự thu hẹp nơi cư trú (điển hình là dưới 100km2) hoặc số địa điểm tìm thấy (điển hình là dưới 5).
Taxon loại này sẽ dễ bị tác động bởi những hoạt động của con người (hoặc các biến cố mà tác động được tăng cường bởi các hoạt động con người) có thể có phản ứng rất nhanh trong một tương lai không lường trước được và do vậy, có thể sẽ trở thành rất nguy cấp, nguy cấp hoặc ngay cả tuyệt chủng trong một thời gian rất ngắn.
E. Phân tích định lượng cho thấy xác suất bị tuyệt chủng ngoài thiên nhiên ít nhất là 10% trong 100 năm.
6. LR - ít nguy cấp - Lower risk
Một taxon được coi là ít nguy cấp khi không đáp ứng một tiêu chuẩn nào của các thứ hạng rất nguy cấp, nguy cấp hoặc sẽ nguy cấp. Thứ hạng này có thể phân thành 3 thứ
hạng phụ:
6. 1. Phụ thuộc bảo tồn (cd) - Conservation dependent
Bao gồm các taxon hiện là đối tượng của một chương trình bảo tồn liên tục, riêng biệt cho taxon đó hoặc nơi ở của nó; nếu chương trình này ngừng lại, sẽ dẫn tới taxon này bị chuyển sang một trong các thứ hạng trên trong khoảng thời gian 5 năm.
6. 2. Sắp bị đe doạ (nt) - Near threatened
Bao gồm các taxon không được coi là phụ thuộc bảo tồn nhưng lại rất gần với sẽ nguy cấp.
6. 3. ít lo ngại (lc) - Least concern
Bao gồm các taxon không được coi là phụ thuộc bảo tồn hoặc sắp bị đe doạ.
7. DD - thiếu dẫn liệu - Data deficient
Một taxon được coi là thiếu dẫn liệu khi chưa đủ thông tin để có thể đánh giá trực tiếp hoặc gián tiếp về nguy cơ tuyệt chủng, căn cứ trên sự phân bố và tình trạng quần thể. Một taxon trong thứ hạng này có thể đã được nghiên cứu kỹ, đã được biết nhiều về sinh học, song vẫn thiếu các dẫn liệu thích hợp về sự phân bố và độ phong phú. Như vậy, taxon loại này không thuộc một thứ hạng bị đe dọa nào, cũng không tương ứng với thứ hạng LR (ít nguy cấp).
8. NE - Không đánh giá - Not evaluated
Một taxon được coi là không đánh giá khi chưa được đối chiếu với các tiêu chuẩn
phân hạng.
Trả lời với trích dẫn
  #6  
Cũ 08-10-2010, 07:32 PM
Cung To Chieu Cung To Chieu đang ẩn
 
Tham gia ngày: Jul 2010
Bài gửi: 25
Thanks: 32
Thanked 23 Times in 14 Posts
Mặc định

CÔNG ƯỚC CITES

Công ước quốc tế về buôn bán các loại động, thực vật hoang dã nguy cấp (CITES) Ký tại Washington D.C tháng 3-1973

Nhận thức được rằng những loài động vật và thực vật hoang dã với vẻ đẹp phong phú và đa dạng của chúng là một phần không thể thay thế của những hệ sinh thái tự nhiên của Trái đất, chúng phải được bảo vệ cho thế hệ hôm nay và những thế hệ mai sau.

ý thức được giá trị to lớn của động và thực vật hoang dã về mặt thẩm mỹ, khoa học, văn hoá, giải trí và kinh tế.

Nhận thức được rằng các dân tộc và các Chính phủ phải là những người bảo vệ tốt nhất hệ động, thực vật cần thiết khỏi hiện tượng khai thác quá mức thông qua buôn bán quốc tế.

ý thức được rằng phải có những biện pháp thích hợp cho các mục tiêu trên là cấp bách, các nhà nước thành viên đi đến nhất trí như sau:





Ðiều1. Ðịnh nghĩa

Những định nghĩa sau đây chỉ phù hợp với phạm vi của Công ước:

1. "Loài" có nghĩa là bất kỳ loài nào, các loài phụ hoặc các chủng quần địa lý của các loài và loài phụ đó.
2. "Vật mẫu" có nghĩa:

1. Bất ký một thực vật hay động vật nào dù sống hay chết.
2. Trong trường hợp của một động vật là những loài thuộc phụ lục I và II, bộ phận được chế biến cho nhận biết, hoặc chế phẩm của chúng được ghi trong phụ lục III có liên quan đến các loài đã nêu và
3. Trong trường hợp của I thực vật: là những loài buộc phụ lục I, bất kỳ những bộ phận đã được chế biến về nhận biết hoặc chế phẩm của chúng và là những loài thuộc phụ lục II và III, bất kỳ những bộ phận đã được chế biến dễ nhận biết hoặc chế phẩm của chúng được ghi trong phụ lục II và III có liên quan đến những loài đã nêu.

1. "Buôn bán" nghĩa là xuất khẩu, tái xuất khẩu, nhập khẩu và nhập nội từ biển.
2. "Tái xuất khẩu" có nghĩa là xuất khẩu bất kỳ một mẫu vật nào mà chúng đã được nhập khẩu trước đó.
3. "Nhập nội từ biển" nghĩa là vận chuyển đến một quốc gia những mẫu vật của bất kỳ loài nào mà chúng được khai thác từ môi trường biển không thuộc quyền quản lý của bất kỳ nước nào.
4. "Thẩm quyền khoa học" nghĩa là một cơ quan khoa học Nhà nước được chỉ định theo Ðiều IX của Công ước.
5. "Thẩm quyền khoa học" nghĩa là một cơ quan khoa học Nhà nước được chỉ định theo Ðiều IX của Công ước.
6. "Thẩm quyền quản lý" là một cơ quan quản lý Nhà nước được chỉ định theo Ðiều IX của Công ước.
7. "Thành viên" nghĩa là một quốc gia mà bản Công ước đã có hiệu lực.





Ðiều II. Những nguyên tắc cơ bản

1. Phụ lục I bao gồm những loài bị đe doạ tuyệt diệt do hoặc có thể do buôn bán. Việc buôn mẫu vật của những loài này phải tuân theo những quy chế nghiêm ngặt để không tiếp tục đe doạ sự tồn tại của chúng và chỉ có thể thực hiện được trong những trường hợp ngoại lệ.
2. Phụ lục II bao gồm:

1. Tất cả những loài mặc dù hiện chưa bị đe doạ tuyệt diệt nhưng có thể dẫn đến đó nếu việc buôn bán những mẫu vật của những loài đó không tuân theo những quy chế nghiêm ngặt nhằm tránh việc sử dụng không phù hợp với sự tồn tại của chúng, và
2. Những loài khác cũng phải tuân theo quy chế để cho việc buôn bán mẫu vật của một số loài có liên quan đến mục (a) có thể phải được kiểm soát hữu hiệu.

1. Phụ lục III bao gồm tất cả các loài mà mỗi nước thành viên quy định theo luật pháp của họ nhằm ngăn chặn hoặc hạn chế việc khai thác và cần thiết phải có sự hợp tác với các nước thành viên khác để kiểm soát việc buôn bán.
2. Những nước thành viên không cho phép buôn bán mẫu vật của những loài thuộc phụ lục I, II, III không phù hợp với những điều khoản của Công ước này.





Ðiều III. Quy chế về buôn bán mẫu vật của những loại thuộc phụ lục I

1. Tất cả các hoạt động buôn bán mẫu vật của những loài thuộc phụ lục I phải phù hợp với những điều khoản của Ðiều III.
2. Việc xuất khẩu bấy kỹ mẫu vật của một loài thuộc phụ lục I đòi hỏi phải được cho phép trước và phải xuất trình 1 giấy pháp xuất khẩu. Một giấy phép xuất khẩu chỉ có thể được cấp khi thoả mãn được những yêu cầu sau:

1. Cơ quan thẩm quyền khoa học của nước xuất khẩu đã được xác nhận rằng việc xuất khẩu này không đe doạ sự tồn tại của loài đó.
2. Cơ quan thẩm quyền quản lý Nhà nước của nước xuất khẩu phải được giải trình đầy đủ là mẫu vật được thu nhập phù hợp với luật pháp của nhà nước về bảo vệ hệ động và thực vật.
3. Cơ quan thẩm quyền quản lý của nước xuất khẩu phải được giải trình đầy đủ là bất kỳ một mẫu vật sống nào đó đều phải được chuẩn bị và vận chuyển theo cách nhằm giảm tối đa về tổn thương, tổn hại sức khoẻ hoặc bị đối xử thô bạo, và
4. Cơ quan thẩm quyền quản lý của nước xuất khẩu phải được giải trình đầy đủ giấy nhập khẩu đã được cấp cho mẫu vật đó.

1. Việc nhập khẩu bất kỳ mẫu vật của 1 loài thuộc phụ lục I đòi hỏi phải được cho phép trước và phải xuất trình 1 giấy phép nhập khẩu và một giấy phép xuất khẩu hoặc 1 chứng chỉ tái xuất. một giấy phép nhập khẩu chỉ được cấp khi thoả thuận những điều kiện sau:

1. Cơ quan thẩm quyền khoa học của nước nhập khẩu đã xác nhận là việc nhập khẩu dùng cho mục đích không làm tổn hại đến sự tồn tại của loài có liên quan.
2. Cơ quan thẩm quyền khoa học của nước nhập khẩu phải được giải trình đầy đủ sẽ nhận một mẫu vật sống đã chuẩn bị tốt về điều kiện nuôi dưỡng và chăm sóc. và
3. Cơ quan thẩm quyền quản lý của nước nhập khẩu phải được giải trình đầy đủ là mẫu vật không được dùng cho mục đích thương mại.

1. Việc tái xuất bất kỳ một mẫu vật của một loài thuộc phụ lục I đòi hỏi phải được phép trước và xuất trình một chứng chỉ tái xuất. Một chứng chỉ được tái xuất chỉ được cấp khi thoả mãn những điều kiện sau:

1. Cơ quan thẩm quyền quản lý của nước tái xuất phải được giải trình đầy đủ là việc nhập mẫu vật vào nước họ là phù hợp với các điều khoản của Công ước CITES.
2. Cơ quan thẩm quyền quản lý của nước tái xuất phải được giải thích đầy đủ là bất kỳ mẫu vật sống nào đều phải được chuẩn bị và vận chuyển theo cách nhằm giảm tối đa về tổn thương, tổn hại sức khoẻ hoặc bị đối xử thô bạo, và
3. Cơ quan thẩm quyền quản lý của nước tái xuất phải được giải trình đầy đủ là một giấy phép nhập khẩu đã được cấp cho bất kỳ 1 mẫu vật sống nào.

1. Việc nhập nội bất kỳ 1 mẫu vật nào từ biển thuộc 1 loài trong phụ lục I đòi hỏi phải được phép trước dưới dạng 1 chứng chỉ của cơ quan Thẩm quyền quản lý của nước nhập. Một chứng chỉ chỉ có thể được cấp khi thoả mãn các điều kiện sau:

1. Cơ quan thẩm quyền khoa học của nước nhập đã xác nhận việc nhập nội không đe doạ sự tồn tại của loài có liên quan.
2. Cơ quan thẩm quyền quản lý của nước nhập phải được giải trình đầy đủ sẽ nhận một mẫu vật sống đã có đủ điều kiện để nuôi dưỡng và chăm sóc cho mẫu vật, và
3. Cơ quan thẩm quyền quản lý của nước nhập nội là mẫu vật sẽ không được dùng cho mục đích thương mại.





Ðiều IV. Quy chế về buôn bán những mẫu vật của những loài thuộc phụ lục II

1. Tất cả hoạt động buôn bán mẫu vật của những loài thuộc phụ lục II phải tuân thủ những điều khoản của Ðiều IV.
2. Việc xuất khẩu bấy kỳ mẫu vật nào của những loài thuộc phụ lục II đòi hỏi phải được phép trước và trình một giấy phép xuất khẩu. Một giấy phép xuất khẩu chỉ có thể được cấp khi những điều kiện dưới đây được thoả mãn:

1. Cơ quan thẩm quyền khoa học của nước xuất khẩu đã xác nhận là việc xuất khẩu này không đe doạ sự tồn tại của loài đó;
2. Cơ quan thẩm quyền quản lý xuất khẩu phải được giải trình đầy đủ là mẫu vật được thu thập phù hợp với luật pháp của Nhà nước và bảo vệ hệ động vật và thực vật, và
3. Cơ quan thẩm quyền quản lý của nước xuất khẩu phải được giải trình đầy đủ một mẫu vật sống nào cũng đã được chuẩn bị và chuyển theo cách có thể giảm tối đa về tổn thương, tổn hại sức khoẻ hoặc bị ngược đãi.

1. Cơ quan thẩm quyền khoa học của mỗi nước thành viên sẽ theo dõi cả giấy phép xuất khẩu do Nhà nước cấp cho các mẫu vật thuộc phụ lục II và cả việc xuất khẩu thực tế của những mẫu vật của một số loài cần phải được hạn chế để duy trì những loài đó trong khu phân bố của chúng đang tồn tại và phải ở trên mức mà ở đó chúng có thể phải được liệt vào phụ lục I thì cơ quan thẩm quyền khoa học góp ý với cơ quan quản lý để thực hiện những biện pháp thích hợp nhằm hạn chế việc cấp giấy phép xuất khẩu cho mẫu vật của những loài đó.
2. Việc nhập khẩu bất kỳ mẫu vật nào của một loài thuộc phụ lục II đều đòi hỏi phải xuất trình trước một giấy phép xuất khẩu hoặc 1 chứng chỉ tái xuất:

1. Cơ quan thẩm quyền quản lý của nước tái xuất phải được giải trình đầy đủ là mẫu vật được nhập vào nước họ phù hợp với những điều khoản của CITES, và
2. Cơ quan thẩm quyền quản lý của nước tái xuất phải được giải trình đầy đủ là bất kỳ mẫu vật sống nào cũng đã được chuẩn bị và vận chuyển theo cách có thể giảm tối đa về tổn thương, tổn hại đến sức khoẻ hoặc bị ngược đãi.

1. Việc nhập nội từ biển bất kỳ mẫu vật của một loài thuộc phụ lục II đòi hỏi phải có trước một chứng chỉ do cơ quan thẩm quyền quản lý của nước nhập nội cấp. Một chứng chỉ chỉ được cấp khi những điều kiện sau đây được thoả mãn:

1. Cơ quan thẩm quyền khoa học của nước nhập nội xác nhận là việc nhập nội sẽ không đe doạ sự tồn tại của loài có liên quan, và
2. Cơ quan thẩm quyền quản lý của nước nhập nội phải được giải trình đầy đủ là bất kỳ mẫu vật sống nào đều được chuẩn bị để giảm tối đa sự tổn thương, tổn hại sức khoẻ hoặc ngược đãi với vật.

1. Chứng chỉ nêu trong mục 6 của Ðiều này có thể được cấp dựa vào ý kiến đóng góp của Cơ quan thẩm quyền khoa học có tham khảo ý kiến của các cơ quan khoa học có tham khảo ý kiến của các cơ quan khoa học trong nước khác hoặc nếu thuận lợi thì thảm khảo với cơ quan khoa học quốc tế, nhưng phải xem xét tổng số lượng mẫu vật được nhập nội trong thời gian không quá một năm.





Ðiều V. quy chế về buôn bán mẫu vật của những loài thuộc phụ lục III

1. Tất cả việc buôn bán mẫu vật của những loài thuộc phụ lục II phải tuân theo điều khoản của Ðiều V.
2. Việc xuất khẩu bất kỳ mẫu vật của những loài thuộc phụ lục III của bất kỳ nước nào mà nước đó cũng liệt những loài đó vào phụ lục III đòi hỏi phải có phép trước và xuất trình một giấy phép xuất khẩu. Một giấy phép xuất khẩu chỉ có thể được cấp khi những điều kiện sau đây được thoả mãn:

1. Cơ quan thẩm quyền quản lý của nước xuất khẩu phải được giải trình đầy đủ là mẫu vật được thu thập phù hợp với luật pháp của nước đó về bảo vệ động và thực vật, và
2. Cơ quan thẩm quyền quản lý của nước xuất khẩu phải được giải trình đầy đủ là bất kỳ mẫu vật sống nào đều được chuẩn bị và vận chuyển theo cách có thể giảm tối đa về tổn thương, tổn thất đến sức khoẻ và ngược đãi đối với mẫu vật.

1. Việc nhập khẩu bất kỳ mẫu vật nào của những loài thuộc phụ lục III đòi hỏi xuất trình trước giấy chứng nhận xuất khẩu của nước có mẫu vật mà nước này đã liệt loài đó vào phụ lục III và một giấy phép xuất khẩu trừ trường hợp áp dụng quy định trong mục 4 của Ðiều này.
2. Trường hợp tái xuất đòi hỏi 1 chứng chỉ do cơ quan thẩm quyền quản lý của nước tái xuất cấp xác nhận rằng mẫu vật đã được xử lý tại nước đó hoặc đang được tái xuất sẽ được nước nhập khẩu tiếp nhận đó là bằng chứng xác nhận rằng Công ước hiện hành được tuân thủ đối với các loài liên quan.





Ðiều VI. giấy phép và chứng chỉ

1. Giấy phép và chứng chỉ được cấp theo điều khoản của Ðiều III, IV, V sẽ phải phù hợp với những điều khoản của Ðiều VI.
2. Một giấy phép xuất khẩu phải có những thông tin được liệt kê mẫu trong phụ lục IV và có thể chỉ được dùng trong khoảng thời gian là 6 tháng kể từ ngày cấp.
3. Mỗi giấy phép hoặc chứng chỉ phải mang tên của Công ước CITES, tên và dấu của cơ quan thẩm quyền quản lý đã cấp giấy phép và một số kiểm soát do cơ quan thẩm quyền quản lý định ra.
4. Bất kỳ một bản sao nào của giấy phép hoặc chứng chỉ do cơ quan thẩm quyền quản lý cấp phải đóng dấu bản sao và bản sao không được dùng thay cho bản gốc trừ trường hợp có ký xác nhận gia hạn giá trị.
5. Mỗi một lần gửi mẫu vật đi phải có một giấy phép hoặc 1 chứng chỉ riêng.
6. Cơ quan thẩm quyền quản lý của nước nhập khẩu sẽ huỷ hoặc giữ lại giấy phép xuất khẩu hoặc chứng chỉ tái xuất hoặc bất kỳ một giấy phép xuất khẩu nào qua đường bưu điện liên quan đến việc nhập khẩu những mẫu vật đó sau khi đã dùng xong.
7. ở đâu có điều kiện và thuận lợi thì cơ quan thẩm quyền quản lý nên đánh dấu lên mẫu vật để tiện việc nhận biết mẫu vật. Ðể thực hiện mục đích này "đánh dấu" có nghĩa là in bằng bất kỳ thứ gì không thể tẩy xoá được mẫu vật miễn là trách được làm giả của những người ngoài chức trách. Nói chung là càng khó bắt chước càng tốt.





Ðiều VII. Các trường hợp miễn trừ và những điều khoản đặc biệt khác liên quan đến buôn bán

1. Những điều khoản của Ðiều III, IV và V sẽ không được áp dụng cho việc chuyển tải hoặc quá cảnh những mẫu vật qua hoặc vào lãnh thổ của nước thành viên trong khi mẫu vật còn nằm dưới sự kiểm soát của hải quan.
2. ở đâu mà cơ quan thẩm quyền quản lý của nước về xuất khẩu và tái xuất được chứng minh rằng mẫu vật đã có được trước khi những điều khoản của Công ước CITES được áp dụng cho mẫu vật đó, thì những điều khoản của các Ðiều III, IV, V không được áp dụng cho những mẫu vật đó ở nơi mà cơ quan thẩm quyền cấp chứng chỉ cho loại mẫu vật đó.
3. Những điều khoản của Ðiều III, IV, V không áp dụng cho mẫu vật là tài sản cá nhân hoặc gia đình. Sự miễn trừ này không áp dụng cho những trường hợp sau:

1. Trong trường hợp mẫu vật thuộc 1 loại trong phụ lục I, chứng được thu thập làm của riêng bên ngoài nước mà người sở hữu thường cư trú mà chúng được nhập vào nước đó, hay là
2. Trong trường hợp mẫu vật thuộc về 1 loài trong phụ lục II:

* Những mẫu vật có được của người sở hữu từ bên ngoài nước mà anh ta cư trú thường xuyên và trong một nước mà ở đó mẫu vật được thu thập từ thiên nhiên.
* Mẫu vật được nhập vào nước mà người sở hữu cư trú thường xuyên, và ở nước mà mẫu vật được thu thập từ ngoài thiên nhiên cần phải có một giấy phép xuất khẩu được cấp trước khi xuất khẩu những mẫu vật đó trừ khi cơ quan thẩm quyền quản lý phải được giải trình đầy đủ là mẫu vật đã có được trước khi những điều khoản của Công ước được áp dụng đối với mẫu vật.

1. Mẫu vật của một loài động vật thuộc phụ lục I được tạo ra trong điều kiện nuôi nhằm mục đích thương mại, hoặc của một loài thực vật được nhận nuôi một cách nhân tạo nhằm mục đích thương mại sẽ được coi mà mẫu vật của những loài thuộc phụ lục II.
2. ở đâu mà cơ quan thẩm quyền quản lý của nước xuất khẩu phải được giải trình đầy đủ là bất kỳ một mẫu vật của một loài động vật được tạo trong điều kiện nuôi hoặc mẫu vật của một loài thực vật được nhận nuôi một cách nhân tạo hoặc là một bộ phận được lấy từ một loài động vật hoặc thực vật nào đó, thì một chứng chỉ được cơ quan thẩm quyền quản lý cấp có thể được chấp nhận như là giấy phép hoặc chứng chỉ cần phải có theo điều khoản của Ðiều III, IV và V.
3. Những điều khoản của Ðiều III, IV và V không được áp dụng cho trường hợp mượn mẫu không mang tính chất thương mại, quà biếu hoặc trao đổi giữa các nhà khoa học hoặc các cơ quan khoa học đã được đăng ký tại cơ quan thẩm quyền quản lý của nước họ. Ðó là những tiêu bản thực vật sống mang nhãn do cơ quan thẩm quyền quản lý xuất ra hoặc phê duyệt.
4. Cơ quan thẩm quyền quản lý của bất kỳ quốc gia nào có thể bỏ qua những đòi hỏi của các Ðiều III, IV cho phép di chuyển những mẫu vật là bộ phận của vườn thú không cấp giấy phép hoặc chứng chỉ miễn là :

1. Người nhập khẩu hay người xuất khẩu đăng ký đầy đủ chi tiết của những mẫu vật thuộc loại trên với cơ quan thẩm quyền quản lý.
2. Những mẫu vật được liệt vào những thứ hạng đặc biệt thuộc mục 2 hoặc 5của Ðiều III, và
3. Cơ quan thẩm quyền quản lý phải được giải trình đầy đủ là những mẫu vật sống sẽ được vận chuyển và chăm sóc theo cách có thể giảm tối đa tổn thương, tổn hại đến sức khoẻ hoặc bị ngược đãi.





Ðiều VIII. Những biện pháp của quốc gia thành viên cần thực hiện

1. Các nước thành viên sẽ tiến hành những biện pháp thích hợp để thi hành có hiệu lực các điều khoản của Công ước này và để cấm buôn bán các mẫu vật vi phạm Công ước. Ðó là những biện pháp sau:

1. Phạt việc buôn bán hoặc lưu giữ các mẫu vật; hoặc cả hai.
2. Tịch thu hoặc trả lại cho nước xuất khẩu các mẫu vật đó.

1. Bên cạnh các biện pháp như đã nêu trong mục I của Ðiều này, khi thấy cần thiết, nước thành viên có thể bằng phương pháp thanh toán nội bộ để chi trả cho những chi phí do hậu quả của việc tịch thu mẫu vật kinh doanh vi phạm những biện pháp sử dụng để thực hiện các điều khoản của CITES.
2. Trong chừng mực có thể nhất trí, mọi nước thành viên cần bảo đảm rằng các mẫu vật sẽ được thông qua các thủ tục buôn bán cần thiết với mức chậm trễ tối thiểu. Ðể tạo điều kiện cho điều này, nước thành viên cần định rõ cảng xuất và nhập cho các mẫu vật để hoàn tất thủ tục hải quan.

Các quốc gia cũng cần bảo đảm rằng mọi mẫu vật sống, trong thời kỳ giao chuyển quá cảnh hoặc chuyển tải sẽ được chăm sóc thích hợp nhằm hạn chế tối thiểu mọi thương tổn về sức khoẻ và các đối xử thô bạo.
3. ở nơi mà mẫu vật bị tịch thu theo biện pháp như đã nêu trong mục 1 của Ðiều này thì:

1. Mẫu vật sẽ được giao cho cơ quan thẩm quyền quản lý của nước tịch thu;
2. Sau khi trao đổi ý kiến với quốc gia xuất, cơ quan thẩm quyền quản lý trên sẽ trả lại mẫu vật cho quốc gia đó và quốc gia này sẽ chịu tiền phí tổn, hoặc mẫu vật sẽ được trả lại cho trung tâm cứu nạn hay một nơi nào đó mà cơ quan thẩm quyền quản lý cho là thích hợp và phù hợp với mục tiêu của Công ước này, và
3. Cơ quan thẩm quyền quản lý có thể xin ý kiến cơ quan thẩm quyền khoa học, hoặc tốt hơn cả là xin ý kiến Ban thư ký để quyết định theo mục (b) được dễ dàng, kể cả việc chọn các trung tâm cứu nạn hoặc địa điểm khác.

1. Trung tâm cứu nạn, như đã nêu trong mục 4 của Ðiều này là một cơ sở do cơ quan thẩm quyền quản lý chọn lựa nhằm trông nom, chăm sóc các mẫu vật sống, đặc biệt là những mẫu vật bị tịch thu.
2. Mỗi nước thành viên sẽ duy trì những số liệu về buôn bán các loài nêu trong phụ lục I, II và II, mà những số liệu này sẽ gồm:

1. Tên và địa chỉ của người xuất, người nhập.
2. Số lượng và kiểu giấy phép, chứng chỉ; những nước tham gia buôn bán: số lượng và chất lượng và hình thức của mẫu vật; tên loài như trong phụ lục I, II và III; và khi thích hợp bao gồm cả kích thước và giới tính của mẫu vật.

1. Mỗi nước thành viên sẽ chuẩn bị các báo cáo thường kỳ về việc thực thi Công ước này và sẽ gửi tới ban thư ký.

1. Một báo cáo hàng năm, nội dung bao gồm tóm tắt các thông tin như đã nêu trong điển (b) của mục 6 điều này; và
2. Một báo cáo định kỳ 2 năm về các biện pháp hành chính, quy tắc, luật lệ đã tiến hành để thực thi các điều khoản của Công ước.

1. Những thông tin đã nêu trong mục 7 của Ðiều này sẽ được phổ biến rộng rãi ở nơi mà Ðiều này phù hợp với luật của nước thành viên đó.





Ðiều IX. các cơ quan thẩm quyền quản lý và thẩm quyền khoa học

1. Vì mục đích của Công ước này, mỗi nước thành viên sẽ bổ nhiệm:

1. ít nhất một cơ quan thẩm quyền quản lý có đủ thẩm quyền cấp giấy phép hoặc chứng chỉ thay mặt cho quốc gia thành viên đó;


2. ít nhất một cơ quan thẩm quyền khoa học

1. Một quốc gia vừa phê chuẩn Công ước, chấp thuận hoặc đã nộp đủ thủ tục gia nhập Công ước sẽ đồng thời thông báo cho cơ quan bảo lưu tên và địa chỉ của cơ quan thẩm quyền quản lý được phép liên hệ với các nước thành viên khác và Ban thư ký.
2. Mọi thay đổi trong việc bổ nhiệm hay uỷ quyền nằm trong các điều khoản của Ðiều này cần được quốc gia đó thông báo cho Ban thư ký để Ban thư ký báo cho các nước thành viên khác.
3. Mọi cơ quan quản lý như đã nêu trong mục 2 của Ðiều này, khi được Ban thư ký hay cơ quan thẩm quyền quản lý của các nước khác yêu cầu, cần thông báo về mẫu in của con tem, con dấu hoặc các dạng khác dùng để xác thực giấy phép hoặc chứng chỉ.





Ðiều X. Buôn bán với các nước không tham gia Công ước

ở những nơi mà xuất khẩu tới hoặc nhập khẩu từ một nước không tham gia Công ước, những văn bản thích hợp được xuất ra từ các cơ quan có thẩm quyền của nước đó phù hợp với các yêu cầu của Công ước, sẽ có thể được chấp thuận thay cho các giấy phép và chứng chỉ.





Ðiều XI. Hội nghị của các nước thành viên

1. Ban thư ký sẽ triệu tập Hội nghị của các nước thành viên không muộn hơn hai năm sau khi Công ước này có hiệu lực.
2. Sau đó Ban thư ký sẽ triệu tập các phiên họp thường kỳ 2 năm một lần, trừ khi Hội nghị có quyết định khác, và các phiên họp bất thường vào mọi thời điểm trên cơ sở những đề nghị bằng văn bản của ít nhất là 1/3 số nước thành viên.
3. Tại cuộc họp, dù những thường kỳ hay bất thường, các nước sẽ kiểm điểm việc thực thi Công ước và có thể:

1. Ðưa ra những điều khoản cần thiết để tạo điều kiện cho Ban thư ký thực thi nhiệm vụ, chấp nhận và thực hiện các điều khoản về tài chính.
2. Xem xét, chấp nhận các sửa đổi của phụ lục I và II phù hợp với Ðiều XV.
3. Kiểm điểm thành quả đã đạt được trong việc hồi phục và bảo vệ các loài thuộc phụ lục I, II và III.
4. Tiếp nhận và xem xét mọi báo cáo do ban thư ký hoặc bất kỳ nước thành viên nào đưa ra; và
5. Nơi nào thích hợp thì đưa ra các kiến nghị nhằm tăng cường hiệu lực của Công ước.

1. Tại mỗi phiên họp thường kỳ, các nước thành viên có thể xác định thời gian và địa điểm cho phiên họp tiếp theo, phú hợp với những điều khoản của mục 2 trong Ðiều này.
2. Tại bất cứ phiên họp nào, các nước thành viên có thể đề xuất và thông qua các nội quy thủ tục cho phiên họp.
3. Liên Hợp Quốc, các tổ chức chuyên môn của Liên Hợp Quốc và cơ quan Năng lượng Nguyên tử quốc tế, cũng như các phiên họp của Hội nghị với tư cách quan sát viên - đó là những người có quyền tham dự nhưng không có quyền bỏ phiếu.
4. Bất kỳ một cơ quan, tổ chức nào có đủ tiêu chuẩn kỹ thuật trong việc bảo vệ, bảo tồn hoặc quản lý động, thực vật hoang dại, theo như các loài dưới đây, mà những tổ chức này đã thông báo cho Ban thư ký về nguyện vọng được tham dự các phiên họp của Hội nghị với tư cách quan sát viên, sẽ được chấp nhận trừ khi có ít nhất là 1/3 các quốc gia thành viên có mặt phản đối:

1. Các tổ chức, cơ quan quốc tế - Chính phủ hoặc phi Chính phủ, và các thẩm quyền tổ chức, cơ quan quốc gia.
2. Các tổ chức, cơ quan phi Chính phủ đóng tại một nước mà đã được Nhà nước đó phê chuẩn (đồng ý) về ý định này.

Khi đã được chấp nhận, các quan sát viên này sẽ có quyền tham dự nhưng không có quyền biểu quyết.





Ðiều XII. Ban thư ký

1. Ngay khi Công ước này có hiệu lực, Giám đốc điều hành chương trình môi trường Liên Hợp Quốc sẽ chọn ra một Ban thư ký. Trong phạm vi và theo cách hoạt động mà ban thư ký cho là thích hợp, Ban thư ký có thể được các tổ chức hoặc cơ quan quốc gia hoặc quốc tế, liên Chính phủ hay phi Chính phủ và các tổ chức có đủ tiêu chuẩn kỹ thuật về bảo vệ, bảo tồn và quản lý đọng, thực vật hoang dã giúp đỡ.
2. Chức năng, nhiệm vụ của Ban thư ký sẽ là:

1. Thu xếp và tổ chức phục vụ các phiên họp của các quốc gia thành viên.
2. Thực hiện chức năng, nhiệm vụ như đã nêu trong các điều khoản của Ðiều XV và XVI của Công ước này.
3. Tiến hành các nghiên cứu khoa học - kỹ thuật theo các chương trình đã được Hội nghị của các nước thành viên cho phép để góp phần vào thực thi Công ước này, bao gồm cả các nghiên cứu có liên quan tới các tiêu chuẩn để chuẩn bị và vận chuyển một cách thích hợp các mẫu vật sống, cũng như các phương tiện để nhận biết mẫu vật.
4. Nghiên cứu xem xét các báo cáo của các nước thành viên, yêu cầu các thành viên cấp những thông tin cụ thể hơn khi cần thiết để đảm bảo cho việc thực thi Công ước này.
5. Hướng các nước thành viên quan tâm tới những vấn đề có liên quan đến các mục tiêu của Công ước.
6. Xuất bản định kỳ và cung cấp cho các nước thành viên những tài liệu cập nhật nhất của phụ lục I, II và III cùng mọi thông tin giúp cho việc nhận biết mẫu vật của loài thuộc các phụ lục này.
7. Chuẩn bị các báo cáo hàng năm về các công việc và những sửa đổi, bổ sung của Công ước đối với từng nước thành viên và chuẩn bị các báo cáo khác kiểu như vậy khi các phiên họp yêu cầu.
8. Ðưa ra các khuyến nghị cho việc thực hiện mục tiêu và các điều khoản của Công ước này, bao gồm cả sự trao đổi thông tin có tính chất khoa học hay kỹ thuật.
9. Thực hiện mọi chức năng, nhiệm vụ khác khi được các nước thành viên giao phó.





Ðiều XIII. Các biện pháp quốc tế

1. Qua những thông tin tiếp nhận được, khi chứng minh được rằng bất kỳ một loài thuộc phụ lục I hoặc II bị ảnh hưởng bất lợi do buôn bán hoặc khi biết rằng các điều khoản của Công ước không được thực thi có hiệu lực, Ban thư ký sẽ thông báo cho các cơ quan thẩm quyền quản lý của một hoặc nhiều nước thành viên có liên quan.
2. Mọi quốc gia khi nhận được thông tin như đã nêu ở mục I của Ðiều này đều phải thông báo càng sớm càng tốt cho ban thư ký về những sự việc liên quan mà trong chừng mực luật pháp của quốc gia đó cho phép, và nơi nào thích hợp thì đề xuất biện pháp sửa chữa. ở những nơi mà quốc gia thành viên này thấy cần thẩm tra, thì việc thẩm tra sẽ do một hoặc vài người được quốc gia đó uỷ quyền tiến hành.
3. Mọi thông tin do một nước thành viên cung cấp hoặc do yêu cầu đã nêu trong mục 2 của Ðiều này sẽ được xem xét lại trong Hội nghị gần nhất của các nước thành viên đồng thời Hội nghị này cũng có thể đề xuất những khuyến nghị nếu được coi là thích hợp.





Ðiều XIV. ảnh hưởng đến pháp chế trong nước và các Công ước quốc tế

1. Các điều khoản của Công ước này sẽ không hề ảnh hưởng đến quyền của các nước thành viên chấp nhận và thực hiện:

1. Các biện pháp trong nước chặt chẽ hơn có liên quan tới các điều kiện buôn bán, lấy mẫu hoặc sở hữu mẫu vật, vận chuyển của các loài thuộc phụ lục I, II và III, hoặc nghiêm cấm các hoạt động đó.
2. Các biện pháp trong nước nhằm hạn chế hoặc cấm buôn bán, lấy mẫu, sở hữu mẫu vật hoặc vận chuyển các loài không thuộc phụ lục I, II và III.

1. Các điều khoản của Công ước này sẽ không hề ảnh hưởng đến các điều khoản của bất kỳ một biện pháp nội bộ nào hoặc một nghĩa vụ nào của quốc gia thành viên liên quan tới các Hiệp ước, Công ước hoặc thoả thuận quốc tế có liên quan tới các khía cạnh khác của việc buôn bán, lấy và sở hữu hoặc vận chuyển các mẫu vật mà những văn bản này đang có hiệu lực hoặc sẽ có hiệu lực cho mọi nước thành viên, bao gồm cả các biện pháp có liên quan tới hải quan, y tế, thú y và kiểm dịch thực vật.
2. Các điều khoản của Công ước này sẽ không hề ảnh hưởng tới các điều khoản hoặc các nghĩa vụ liên quan tới bất kỳ một Hiệp ước, Công ước hay Thoả thuận quốc tế đã được thông qua, hoặc những văn bản này có thể được ký kết giữa các quốc gia để tạo ra một hiệp hội hoặc một thoả thuận buôn bán khu vực để hình thành hoặc duy trì kiểm soát hải quan chung ngoài biên giới và trong chừng mực nào đó loại bỏ các kiểm soát hải quan giữa các quốc gia thành viên khi các kiểm soát hải quan này có liên quan tới việc buôn bán giữa các quốc gia thành viên của Thoả thuận Hiệp hội.
3. Một quốc gia thành viên của Công ước này, mà là thành viên của các Hiệp ước, Công ước hoặc Thoả thuận quốc tế khác đã có hiệu lực trong thời điểm Công ước này cũng đã có hiệu lực và theo các điều khoản của các Công ước đó các loài thuộc động, thực vật biển nằm trong phụ lục I cũng đã được bảo vệ thì nghĩa vụ thuộc điều khoản của Công ước này về vấn đề buôn bán các mẫu vật thuộc phụ lục II mà tầu biển dùng thu thập mẫu đã đăng ký ở quốc gia đó sẽ được giảm nhẹ.
4. Mặc dù có các điều khoản của Ðiều III, IV và V, việc xuất khẩu một mẫu vật phù hợp với mục 4 của Ðiều này sẽ chỉ đòi hỏi một chứng chỉ từ cơ quan thẩm quyền quản lý của nước nhập nội giới thiệu rằng mẫu vật được lấy phù hợp với các điều khoản của các Hiếp wóc, Công ước hoặc Thoả thuận quốc tế có liên quan.
5. Công ước này không có điều khoản nào làm tổn hại đến sự soạn thảo và xây dựng Luật biển của hội nghị Liên Hợp Quốc về Luật biển được triệu tập theo Nghị quyết số 2750C (XXV) của Ðại hội đồng Liên Hợp Quốc và cũng không có điều khoản nào làm tổn hại đến việc xác nhận hiện tại và trong tương lai và các quan điểm pháp lý của mọi quốc gia có liên quan đến Luật biển và đặc tính hoặc phạm vi của quyền tài phán đối với bờ biển và chủ quyền quốc gia.





Ðiều XV. Các sửa đổi, bổ sung đối với phụ lục I và II

1. Các điều khoản dưới đây có liên quan tới việc sửa đổi, bổ sung phụ lục I và II sẽ được áp dụng tại các phiên họp của Hội nghị các nước thành viên.

1. Mọi quốc gia thành viên đều có thể dự kiến sửa đổi, bổ sung cho phụ lục I hoặc II để xem xét tại phiên họp tiếp theo. Nội dung sửa đổi dự kiến cần được báo cho ban thư ký tối thiểu là 150 ngày trước phiên họp. Ban thư ký sẽ hỏi ý kiến các quốc gia khác cũng như các điều khoản của điểm (b) và (c) của mục 2 trong Ðiều này, và sẽ phúc đáp các nước thành viên không chậm hơn 30 ngày trước phiên họp.
2. Các sửa đổi, bổ sung sẽ được chấp nhận với 2/3 số các nước có mặt và bỏ phiếu. Tức là tính các quốc gia có mặt bỏ phiếu thuận hoặc phiếu chống. Các nước bỏ phiếu trắng sẽ không được tính đến trong tỷ lệ 2/3 cần có để chấp nhận sửa đổi này.
3. Các sửa đổi, bổ sung đã được chấp thuận tại phiên họp sẽ có hiệu lực sau kỳ họp 90 ngày trừ các sửa đổi, bổ sung cần được bảo lưu phù hợp với khoản 3 của Ðiều này.

1. Các điều khoản dưới đây có liên quan tới việc sửa đổi, bổ sung phụ lục I và II sẽ được áp dụng giữa các phiên họp của Hội nghị các quốc gia thành viên:

1. Mọi quốc gia đều có thể dự kiến sửa đổi, bổ sung cho phụ lục I hoặc II để xem xét giữa các phiên họp, thông qua các thủ tục bưu điện.
2. Ðối với các loài ở biển, Ban thư ký sau khi nhận được nội dung bổ sung dự kiến, sẽ lập tức thông tin cho các nước thành viên. Ban thư ký cũng sẽ hỏi ý kiến các cơ quan liên Chính phủ có chức năng, nhiệm vụ liên quan đến các loài này, đặc biệt để lấy những số liệu khoa học mà các cơ quan này có thể cung cấp cũng như để bảo đảm kết hợp các biện pháp bảo vệ mà các cơ quan này thi hành. ban thư ký sẽ thông tin các quan điểm và các số liệu do các cơ quan này cung cấp, cũng như các khuyến nghị và khám phá của chính Ban thư ký tới các nước thành viên một cách sớm nhất.
3. Ðối với các loài không ở biển, sau khi nhận được những bổ sung dự kiến, Ban thư ký sẽ lập tức thông tin đến các nước thành viên và sau đó sẽ thông báo các khuyến nghị của Ban thư ký trong khả năng nhanh nhất.
4. Trong vòng 60 ngày tính từ ngày Ban thư ký thông báo các khuyến nghị đến các nước thành viên như đã nêu trong điểm (b) hoặc (c) của mục này, mọi thành viên đều phải chuyển cho ban thư ký những ý kiến của mình về các bổ sung dự kiến cùng với mọi thông tin và số liệu khoa học thích hợp.
5. Ban thư ký sẽ thông báo những khuyến nghị của mình và các phúc đáp nhận được từ các nước thành viên tới các nước một cách sớm nhất.
6. Nếu trong vòng 30 ngày tính từ ngày ban thư ký trả lời và khuyến nghị theo như điểm (e) của mục này mà ban thư ký không nhận được ý kiến phản đối nào thì việc bổ sung sẽ có hiệu lực cho mọi thành viên sau 90 ngày, trừ những nước bảo lưu phù hợp với mục 3 của Ðiều này.
7. Nếu Ban thư ký nhận được phản đối từ bất kỳ một thành viên nào, sửa đổi, bổ sung dự kiến sẽ được trình để bỏ phiếu qua bưu điện, theo như các điều khoản của điểm (h), (i) và (j) của mục này.
8. Ban thư ký sẽ thông báo cho các nước thành viên rằng đã nhận được ý kiến phản đối.
9. Trừ khi ban thư ký nhận được phiếu thuận, phiếu chống hoặc phiếu trắng, ít nhất một nửa số thành viên trong vùng 60 ngày tính từ ngày thông báo như đã nêu trong điểm (h) của mục này, bổ sung dự kiến sẽ được chuyển sang phiên họp tiếp theo của Hội nghị để xem xét thêm.
10. Trường hợp Ban thư ký nhận được các phiếu bầu từ ít nhất một nửa số thành viên, các sửa đổi, bổ sung sẽ được chấp thuận bởi 2/3 số phiếu tính theo phiếu thuận và phiếu chống.
11. Ban thư ký sẽ thông báo cho tất cả các nước thành viên về kết quả bỏ phiếu.
12. Nếu sửa đổi, bổ sung dự kiến được chấp thuận, chúng sẽ có hiệu lực sau 90 ngày tính từ ngày thông báo của ban thư ký về sự chấp thuận này tới mọi thành viên, trừ những quốc gia thành viên bảo lưu theo khoản 3 của Ðiều này.

1. Trong thời kỳ 90 ngày như đã nêu trong điểm (c) của mục 1 hoặc điểm (I) của mục 2 trong Ðiều này, mọi thành viên đều có thể thông báo cho Chính phủ đăng cai để yêu cầu bảo lưu về vấn đề sửa đổi, bổ sung. Chỉ tới khi sự bảo lưu này được rút bỏ, quốc gia thành viên này sẽ chỉ được coi là một quốc gia chứ không phải là một thành viên của Công ước này về vấn đề buôn bán các loài có liên quan.





Ðiều XVI. Phụ lục II và các bổ sung

1. Mọi thành viên vào mọi thời điểm đều có thể trình cho Ban thư ký một danh sách các loài được xem là đối tượng của những quy chế đã nêu trong mục 3 của Ðiều II, Phụ lục III sẽ bao gồm tên của các thành viên đã trình danh sách loài, tên khoa học của các loài đã trình và bất kỳ một bộ phận hoặc các chế phẩm nào từ các động, thực vật mà những loài này đã được xác định là có liên quan tới các loài trong mục tiêu của điểm (b) Ðiều I.
2. Mỗi danh sách đệ trình theo như các điều khoản của mục 1 trong Ðiều này sẽ được ban thư ký báo cáo cho các nước thành viên một cách sớm nhất. Danh sách này được coi như là một phần của phụ lục III sẽ có hiệu lực sau 90 ngày tính từ ngày thông náo trên của Ban thư ký. Bất kỳ lúc nào sau khi thông báo danh sách loài, mọi thành viên đều có thể thông báo bằng văn bản cho quốc gia đăng cai để giành quyền bảo lưu các loài, các bộ phận hoặc chế phẩm cho tới khi sự bảo lưu đó được rút bỏ. Quốc gia này sẽ được coi như là một quốc gia chứ không phải là một thành viên của

Công ước này về buôn bán các loài, các bộ phận hoặc các chế phẩm có liên quan.
3. Mỗi nước thành viên đã trình bày một loài để bổ sung thêm vào phụ lục III có thể huỷ bỏ quyết định vào bất kỳ thời điểm nào bằng cách thông báo cho Ban thư ký biết và Ban thư ký sẽ bảo cho các thành viên về sự huỷ bỏ này. Việc huỷ bỏ sẽ có hiệu lực sau 30 ngày tính từ ngày thông báo đó của ban thư ký.
4. Một thành viên khi đệ trình 1 danh sách như các điều khoản của mục 1 của Ðiều này sẽ trình cho Ban thư ký một bản sao của tất cả các điều luật và quy chế trong nước áp dụng trong việc bảo vệ các loài đó, cùng với mọi dẫn giải mà quốc gia đó cho là thích hợp hoặc thể theo yêu cầu của ban thư ký. Khi các loài có liên quan đã được đưa vào phụ lục III, quốc gia thành viên sẽ đệ trình những sửa đổi, bổ sung của các điều luật hoặc quy chế hoặc những giải trình mới khi chúng đã được thông qua.





Ðiều XVII. Sửa đổi, bổ sung của Công ước

1. Một phiên họp bất thường của Hội nghị các nước thành viên sẽ được Ban thư ký triệu tập theo yêu cầu của tối thiểu 1/3 số thành viên để xem xét và thông qua các sửa đổi, bổ sung cho bản Công ước này. Các sửa đổi, bổ sung sẽ được thông qua với 2/3 số các nước có mặt và tham gia bỏ phiếu. Chỉ những phiếu thuận và phiếu chống là được tính. Các thành viên bỏ phiếu trắng sẽ không được tính vào tỷ lệ 2/3 cần thiết này.
2. Nội dung của mọi sửa đổi, bổ sung dự kiến sẽ được ban thư ký thông báo cho mọi thành viên ít nhất là 90 ngày trước phiên họp.
3. Một sửa đổi, bổ sung sẽ có hiệu lực đối với các thành viên đã chấp thuận sau 60 ngày sau khi 2/3 số quốc gia thành viên nộp văn bản chấp thuận việc sửa đổi, bổ sung cho Chính phủ đăng cai. Sau đó, các sửa đổi, bổ sung cũng sẽ có hiệu lực đối với những nước thành viên khác sau 60 ngày tính từ khi quốc gia đó nộp văn bản chấp thuận bổ sung.





Ðiều XVIII. Giải quyết tranh cãi

1. Mọi tranh cãi nảy sinh giữa hai hoặc một số thành viên về vấn đề giải trình và áp dụng các điều khoản của Công ước này sẽ là chủ đề để thương lượng giữa các bên có liên quan tới việc tranh cãi.
2. Nếu tranh cãi không thể giải quyết được theo như mục 1 của Ðiều này đã nêu, các bên liên quan do thoả thuận chung sẽ đệ trình vấn đề tranh cãi lên trọng tài để phân xử, đặc biệt là Toà án trọng tài thường trực tại The Hague và các quốc gia đệ trình các vấn đề tranh cãi sẽ phải tuân theo quyết định của trọng tài.





Ðiều XIX. Ký kết

Công ước này để ngỏ cho việc ký kết tại Washington tới ngày 30 tháng 4 năm 1973 và sau đó là tại Berne cho tới ngày 31 tháng 12 năm 1974.





Ðiều XX. Phê chuẩn, chấp thuận, tán thành

Công ước này sẽ phải được phê chuẩn, chấp thuận, tán thành. Các văn kiện phê chuẩn, chấp thuận hoặc tán thành sẽ được nộp cho Chính phủ Thuỵ Sĩ mà Chính phủ này sẽ là Chính phủ đăng cai Công ước.



Ðiều XXI. Gia nhập

Công ước này sẽ mở rộng cho tất cả các quốc gia tham gia. Văn bản sẽ được nộp cho Chính phủ đăng cai.



Ðiều XXII. Hiệu lực

1. Công ước này sẽ có hiệu lực sau 90 ngày tính từ ngày các văn kiện phê chuẩn, chấp thuận, tán thành hoặc văn bản gia nhập thứ 10 được nộp cho Chính phủ đăng cai.
2. Ðối với những quốc gia phê chuẩn, chấp thuận hoặc tán thành

Công ước này, hoặc gia nhập Công ước, sau khi các văn kiện phê chuẩn, chấp thuận, thông qua hoặc tán thành thứ 10 đã được nộp cho Chính phủ đăng cai. Công ước sẽ có hiệu lực chỉ sau 90 ngày tính từ ngày quốc gia đó nộp các văn kiện phê chuẩn, chấp thuận, tán thành hoặc gia nhập của mình.



Ðiều XXIII

Bảo lưu

1. Các khoản của Công ước này sẽ không phải là đối tượng bảo lưu chung. Các bảo lưu đặc biệt có thể được ghi vào theo các điều khoản của Ðiều này và Ðiều XV và XVI.
2. Mọi quốc gia, khi nộp văn bản phê chuẩn, chấp thuận, tán thành hay gia nhập đều có thể đưa ra một bảo lưu đặc biệt có liên quan tới:

1. Bất kỳ loài nào thuộc phụ lục I, II và III; hoặc
2. Bất kỳ một bộ phận hoặc chế phẩm đặc trưng nào có liên quan đến loài thuộc phụ lục III.

1. Chỉ tới khi một quốc gia rút bỏ sự bảo lưu theo như các điều khoản của Ðiều này, nước này sẽ được coi như là một quốc gia chứ không phải là thành viên của Công ước này về những vấn đề có liên quan tới việc buôn bán các loài, các bộ phận hoặc chế phẩm đã được đưa ra bảo lưu.



Ðiều XXIV

Bãi ước

Mọi thành viên đều có thể bãi ước với bản Công ước này bằng cách thông báo bằng văn bản cho Nhà nước đăng cai vào bất kỳ thời điểm nào. Sự bãi ước sẽ có hiệu lực sau 12 tháng tính từ ngày Nhà nước đăng cai nhận được thông báo.



Ðiều XXV

Lưu chiểu

1. Công ước này được làm bằng 5 thứ tiếng: Trung Quốc, Anh, Pháp Nga, và Tây Ban Nha đều có giá trị pháp lý như nhau, và sẽ được lưu tại nước đăng cai. Nước này sẽ chuyển các bản sao xác thực của Công ước tới các nước đã tham gia ký kết đã nộp các văn bản tham gia Công ước cho các nước đăng cai.
2. Nhà nước đăng cai sẽ thông báo cho mọi quốc gia thành viên và Ban thư ký về chữ ký, việc nộp lưu chiểu các văn kiện phê chuẩn, chấp thuận, tán thành hoặc than gia Công ước, hiệu lực của Cong ước, các sửa đổi, bổ sung, ghi bảo lưu và bãi bỏ bảo lưu và các thông báo bãi ước.
3. Ngay khi Công ước có hiệu lực, một bản sao xác thực sẽ được Nhà nước đăng cai chuyển tới Ban thư ký của Liên Hợp Quốc để đăng ký và phát hành theo như Ðiều 102 của Hiến chương Liên Hợp Quốc.

Với bằng chứng là những người đại diện toàn quyền ký tên dưới đây, được uỷ nhiệm trọng trách này đã ký vào Công ước CITES.
Trả lời với trích dẫn
  #7  
Cũ 04-27-2011, 03:15 PM
TriHung TriHung đang ẩn
 
Tham gia ngày: Apr 2011
Bài gửi: 6
Thanks: 2
Thanked 0 Times in 0 Posts
Mặc định

chim trong danh mục sách đỏ đâu phải chỉ có đại bàng? nó có cả hàng nghìn loài chim quý hiếm mà hiện nay đang bị săn, bắt. thú thật mà nói với nhau rằng, từ bắc vào nam ta ghé tiệm bán chim nào ngó ngiêng một chút cũng thấy chim quý, hiếm. những loài chim nhỏ quý hiếm được săn bắt nhiều hơn những loài chim lớn. như tôi đang nuôi một cặp đại bàng đang rất khỏe mạnh, đó cũng là một phần nhỏ để cứu sống hai con đại bàng đó, vì sao? vì khi tôi mua nó, nó còn rất nhỏ, người ta đã bắt nó về,nếu như không biết nuôi thì hai con đó rồi cũng sẽ chết, còn tôi đang nuôi với sự huấn luyện cho chim một cách bài bản, nên con chim khỏe mạnh và có thể bay tự do được trên bầu trời, như vậy không phải là tốt hơn sao.
Trả lời với trích dẫn
Trả lời

Công cụ bài viết
Kiểu hiển thị

Quyền viết bài
Bạn không thể gửi chủ đề mới
Bạn không thể gửi trả lời
Bạn không thể gửi file đính kèm
Bạn không thể sửa bài viết của mình

BB code đang Mở
Mặt cười đang Mở
[IMG] đang Mở
HTML đang Tắt

Chuyển đến

Chủ đề tương tự
Chủ đề Người khởi xướng chủ đề Diễn đàn Trả lời Bài cuối
Kỹ Thuật Nuôi Chim Yến Hót (Canari) hoangquangtuan Kỹ thuật chăm sóc 1 05-12-2011 12:16 PM
chim chao mao chaomaolua Kỹ thuật chăm sóc 1 03-20-2011 05:51 AM
Đi tìm con chim là vật tổ của nước Việt DuyQuang Văn - thơ 0 10-10-2010 02:52 PM
Chim việt tại văn miếu hà nội hoangquangtuan Văn - thơ 0 09-14-2010 01:38 PM
Lớp Chim (Aves) hoangquangtuan Các loại chim cảnh 1 08-17-2010 11:06 PM

 
Thông báo mới
- by admin
- by admin
- by admin
- by admin
- by admin

Advertisement

Partner Links




Múi giờ GMT +8. Hiện tại là 03:52 PM
Sử dụng mã nguồn vBulletin® Phiên bản 3.8.5
BQT không chịu bất cứ trách nhiệm nào từ nội dung bài viết của thành viên.
CLB - Chim cảnh Lan Anh
Địa Chỉ: 12 - Đoàn Thị Điểm - Đà Lạt - Lâm Đồng