Trở lại   CLB Chim Cảnh Lan Anh > Trao đổi kinh nghiệm > Các loại chim cảnh

Các loại chim cảnh Các loại chim cảnh phổ biến và độc đáo


Trả lời
 
Công cụ bài viết Kiểu hiển thị
  #1  
Cũ 09-05-2010, 05:59 PM
Avatar của hoangquangtuan
hoangquangtuan hoangquangtuan đang ẩn
 
Tham gia ngày: May 2010
Bài gửi: 725
Thanks: 224
Thanked 758 Times in 343 Posts
Mặc định Chim Heo (Cú Lợn)

Chim Heo (Cú Lợn)
Tên Tiếng Anh : Barn Owl
Danh Pháp Khoa Học : Tyto alba



The Owl Barn (Tyto alba) là loài phân bố rộng rãi nhất của họ cú, và là một trong những loài phổ biến nhất của loài chim. Chúng cũng được gọi là Common Barn Owl (Cú Lợn Thường), để phân biệt với các loài khác trong Họ Cú lợn (Tytonidae).Chúng được tìm thấy gần như bất cứ nơi nào trên thế giới ngoại trừ vùng cực và các vùng sa mạc châu Á, phía bắc của vành đai Alp, hầu hết Indonesia, và các đảo Thái Bình Dương

Lòai này được biết đến bởi rất nhiều cái tên khác nhau, vì tiếng kêu của chúng và môi trường sống , ví dụ như: White Owl, Silver Owl, Demon Owl, Ghost Owl, Death Owl, Night Owl, Rat Owl, Church Owl, Cave Owl, Stone Owl, Monkey-faced Owl, Hissing Owl, Hobgoblin or Hobby Owl, Dobby Owl, Golden Owl, Scritch Owl, Screech Owl, Straw Owl, Barnyard Owl and Delicate Owl, Golden Owl, Scritch Owl, Screech Owl, Straw Owl, Barnyard Owl và Delicate Owl, "Golden Owl", "Hissing Owl" .... Tên khoa học, được thành lập theo G.A. Scopoli năm 1769, có nghĩa là "white owl" ( cú trắng), trong tiếng Hy Lạp cổ đại onomatopoetic tyto (τυτο) để chỉ về Cú (owl)-so sánh với tiếng Anh nghĩa là "hooter" (kèn xe hơi), và Latin alba nghĩa là "trắng".



Họ Cú lợn là một trong hai họ động vật thuộc bộ Cú, một số loài thấy ở Việt Nam thường được gọi chung là chim lợn do tiếng kêu của nó giống lợn[1]. Cú lợn là chim săn mồi, hoạt động chủ yếu về đêm, thường sống thành đôi hoặc đơn độc và không di trú

Cú lợn là họ cú cỡ trung bình và lớn, đầu to, chân khỏe với móng vuốt sắc. Nét đặc thù của chúng là đĩa mặt hình trái tim, được tạo bởi lông vũ. Những lông vũ này còn có tác dụng định vị và khuyếch đại âm thanh khi săn mồi. Lông vũ ở cánh cú lợn cũng có cấu tạo đặc biệt nên không phát ra tiếng động khi bay, giúp chúng nghe tốt hơn và tránh được sự phát hiện của con mồi. Nhìn chung cú lợn có lưng từ màu xám đến nâu, ngực và bụng màu sáng hơn, có thể có đốm. Cú lợn rừng thường nhỏ hơn và đĩa mặt không có hình trái tim mà được chia thành 3 phần, tai được lông chùm bao bọc.

Các chi, loài

Chi Cú lợn (Tyto)

* Cú lợn bồ hóng lớn, Tyto tenebricosa, sống ở đông nam Úc, rừng nhiệt đới Montane, New Guinea
* Cú lợn bồ hóng nhỏ, Tyto multipunctata, sống ở những vùng có khí hậu nhiệt đới, ẩm ướt của Úc
* Cú lợn mặt nạ châu Úc, Tyto novaehollandiae, sống ở miền nam New Guinea và những vùng không phải sa mạc của Úc
o Cú lợn mặt nạ hang, Tyto novaehollandiae troughtoni - còn có bất đồng về loài này; có thể đã tuyệt chủng trong thập niên 1960
* Cú lợn mặt nạ vàng, Tyto aurantia, là loài chim đặc hữu của đảo New Britain, Papua New Guinea
* Cú lợn mặt nạ nhỏ, Tyto sororcula, là loài chim đặc hữu của Indonesia
o Cú lợn mặt nạ Buru, Tyto (sororcula) cayelii - có khả năng đã tuyệt chủng vào giữa thế kỷ 20
* Cú lợn mặt nạ Manus, Tyto manusi, là loài chim đặc hữu ở đảo Manus, Papua New Guinea
* Cú lợn mặt nạ Taliabu, Tyto nigrobrunnea, là loài chim đặc hữu của quần đảo Sula, Indonesia
* Cú lợn vàng Sulawesi, Tyto inexspectata, là loài chim đặc hữu của đảo Sulawesi, Indonesia
* Cú lợn Sulawesi, Tyto rosenbergii, có nguồn gốc từ Indonesia nhưng vùng sinh sống khá rộng
o Cú lợn mặt nạ Peleng, Tyto rosenbergii pelengensis - có khả năng đã tuyệt chủng vào giữa thế kỷ 20
* Cú lợn lưng xám, Tyto alba[2], là loài phân bố rộng nhất của họ Cú cũng như của lớp Chim
o Cú lợn phương Đông, Tyto (alba) delicatula
* Cú lợn mặt xám, T. glaucops, sống ở Haiti, Dominica
* Cú lợn đỏ Madagascar Tyto soumagnei, sống ở đảo Madagascar
* Cú lợn đồng cỏ châu Phi Tyto capensis, sống ở nhiều nước thuộc châu Phi
* Cú lợn đồng cỏ châu Úc Tyto longimembris, tìm thấy ở Úc, Trung Quốc, Fiji, Ấn Độ, Indonesia, Myanma, Nepal, New Caledonia, Papua New Guinea, Philippines, Đài Loan, Việt Nam, Hồng Kông, Nhật Bản

Chi Cú lợn rừng (Phodilus)

* Cú lợn rừng phương Đông Phodilus badius, sống ở khắp Đông Nam Á
o Cú lợn rừng Samar Phodilus (badius) riverae - có khả năng đã tuyệt chủng vào giữa thế kỷ 20
* Cú lợn rừng Congo, Phodilus prigoginei - sống ở Cộng hòa Dân chủ Congo, đôi khi được xếp vào chi Cú lợn

Các loài hóa thạch

* Nocturnavis (Cuối Kỷ nguyên Eocene/Đầu Kỷ nguyên Oligocene)
* Necrobyas (Cuối Kỷ nguyên Eocene/Đầu Kỷ nguyên Oligocene - Cuối Kỷ nguyên Miocene)
* Selenornis (Cuối Kỷ nguyên Eocene/Đầu Kỷ nguyên Oligocene, tìm thấy ở Quercy, Pháp)
* Prosybris (Cuối Kỷ nguyên Eocene/Đầu Kỷ nguyên Oligocene - Đầu Kỷ nguyên Miocene, tìm thấy ở Pháp)

Ngoài ra, các dấu vết hóa thạch ở Quercy, Pháp thuộc cuối Kỷ nguyên Eocene/Đầu Kỷ nguyên Oligocene của loài Palaeotyto và Palaeobyas còn đang được cân nhắc vì chúng có thể thuộc Họ Sophiornithidae (chim Khôn ngoan).

Ở Việt Nam, đã phát hiện 3 loài cú lợn:

Cú lợn lưng xám (Tyto alba)



* Cú lợn lưng xám (Tyto alba): còn gọi là cú lợn trắng, chim trưởng thành có kích thước cánh 275-323 mm; đuôi: 119-127 mm; giò: 68-77 mm; mỏ: 30-32 mm. Đĩa mặt hình trái tim, trắng óng ánh. Có lông quanh mắt, nhất là phía trước nâu hung. Vòng cổ trắng mịn, mút các lông mà hung điểm nâu nhỏ ở giữa, nửa vòng dưới màu hung nâu thẫm. Mặt lưng và bao cánh lấm tấm nâu xám nhạt và trắng, giữa mút lông có điểm trắng viền nâu thẫm, mép lông hung vàng. Lông cánh hung vàng xỉn có vằn rộng và lấm tấm nâu xám nhạt. Lông đuôi hung vàng có đốm nhỏ màu nâu xám nhạt, vằn ngang rộng cùng màu. Mặt lưng có màu sắc thay đổi tùy theo từng cá thể: ngả màu nâu xám nhạt hoặc màu hung vàng. Mắt nâu thẫm, mỏ trắng bợt, da gốc mỏ hơi hồng, chân nâu hồng. Loài cú lợn có ở hầu hết các đô thị như Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Quảng Trị, Huế, Thành phố Hồ Chí Minh,...

Cú lợn rừng phương Đông (Phodilus badius)


* Cú lợn rừng phương Đông (Phodilus badius): ở Việt Nam thường được gọi là cú lợn rừng, chim trưởng thành trán, đỉnh đầu và đĩa mặt màu hung, nâu phớt tím. Lông quanh mắt màu mận chín, vòng cổ trắng với mút lông màu nâu tím thẫm và đen. Phần còn lại của bộ lông nhìn chung có màu nâu với các đốm nhỏ màu đen rải rác. Đuôi hung nâu, có vằn đen nằm ngang. Mắt nâu thẫm, mỏ vàng hung, chân nâu hoặc nâu vàng. Hiện chưa có số liệu sinh hoạc về loài này.Cú lợn rừng sống trong các vùng rừng kể cả nơi có cây bụi thứ sinh và rừng tràm. Ở Việt Nam: mới chỉ thu thập được mẫu vật ở Bắc Kạn, huyện Kỳ Anh, Hà Tĩnh), thị xã An Khê (Gia Lai) và Trà Vinh.

Cú lợn lưng nâu (Tyto capensis)

* Cú lợn lưng nâu (Tyto capensis): còn gọi là cú lợn vằn, chim trưởng thành có kích thước cánh: 273-348 mm; đuôi: 114-125 mm; giò: 86-94 mm; mỏ: khoảng 36 mm. Đĩa mặt trắng óng ánh hay hơi hung hồng, trước mắt có vệt nâu đen thẫm. Vòng cổ trắng nhưng hơi phớt hung, ở phần lớn cá thể, mút lông viền nâu thẫm. Mặt lưng nâu thẫm, mép và phần gốc các lông hung vàng, gần mút lông có điểm trắng nhỏ. Lông cánh hung nâu có vằn rộng, mép ngoài và mút lông nâu. Đuôi hung vàng rất nhạt có bốn vằn ngang nâu. Mặt bụng trắng phớt hung vàng, nhất là ở ngực, các lông có điểm nhỏ màu nâu trừ phần trước cổ, dưới đuôi và đùi. Mắt nâu, mỏ trắng bợt hơi hồng, da gốc mỏ hồng nhạt, chân nâu hồng hay nâu đen nhạt. Đã bắt được loài này ở các khu rừng thuộc Vĩnh Phúc, Lạng Sơn và ở một số nơi ở Nam Bộ

* Theo nghị định số 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ Việt Nam ngày 30 tháng 3 năm 2006 về quản lý thực vật rừng, động vật rừng cấp, quý hiếm, Cú lợn rừng và Cú lợn lưng xám được xếp vào nhóm hạn chế khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại.
* Theo quyết định số 140/2000/QĐ-BNN/KL của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam ngày 21 tháng 12 năm 2000, Cú lợn lưng xám và Cú lợn lưng nâu được xếp vào các loài động vật là thiên địch của chuột (thức ăn chính là chuột), bị nghiêm cấm khai thác từ tự nhiên.
* Cú lợn rừng: được đưa vào sách đỏ Việt Nam (mức độ nguy cấp bậc T - bị đe dọa), có giá trị thẩm mỹ và khoa học, là nguồn gen quý, có vùng phân bố rộng nhưng số lượng cá thể ít, hiếm gặp.


* Mặc dù là loài vật có ích, ăn chuột và một số loài côn trùng nhưng cũng như các loài thuộc họ Cú mèo, chim lợn là đối tượng xua đuổi của con người. Điều này xuất phát từ niềm tin của nhiều người Việt rằng chim lợn kêu là điềm báo trước có người nào đó sắp chết. Thậm chí, họ cho rằng chim lợn kêu 7 tiếng thì cái chết ứng vào nam giới còn 9 tiếng thì ứng vào nữ giới.
* Gần đây, những người chuyên thông báo tin tức, thường là để phục vụ cho những việc làm phi pháp hoặc bị coi là xấu (chẳng hạn buôn lậu) cũng được gọi bằng tiếng lóng là chim lợn.




Con chim lợn bị bệnh hắc tố rất hiếp gặp Sabele (trái) và con chim lợn bình thường Petra tại trung tâm giải cứu chim lợn ở Hereford, miền tây nước Anh. Tỷ lệ chim lợn sinh ra có màu đen là 1/100.000.

Lần sửa cuối bởi hoangquangtuan; 09-05-2010 lúc 06:38 PM
Trả lời với trích dẫn
Những thành viên đã "Cảm ơn" hoangquangtuan cho bài viết này:
Than Dieu dai Hiep (09-06-2010)
  #2  
Cũ 09-05-2010, 06:41 PM
Avatar của hoangquangtuan
hoangquangtuan hoangquangtuan đang ẩn
 
Tham gia ngày: May 2010
Bài gửi: 725
Thanks: 224
Thanked 758 Times in 343 Posts
Mặc định

Cú kêu cho ma ăn
Cú là một loại chim ăn thịt, mắt rất to, thường đi rình mò kiếm mồi ban đêm. Cú có tiếng kêu đanh, dữ dội, gây cảm giác rợn người. Theo quan niệm mê tín, hễ nhà ai có cú đến đậu đầu nhà, kêu ba tiếng, thì nếu không chết người thì cũng ốm đau nặng. Đặc biệt, những gia đình đang có người bệnh, thấy cú bay qua và kêu thì cũng phải xem chừng đấy. Cái nhìn của cú, con mắt của cú đối với họ là nỗi sợ hãi kinh hoàng. Chẳng thế mà dân gian ta hay nói là "dòm như cú dòm nhà bệnh", "cú dòm nhà bệnh" để ví với ý định xấu của người nào đó có rắp tâm làm hại người. Vì vậy trong quan niệm dân gian, cú và tiếng kêu của cú là biểu tượng của điềm xấu, điềm gở. Theo quan niệm mê tín, thì tiếng kêu của cú là tín hiệu báo trước sẽ có người chết. Hễ nghe tiếng cú kêu ở đâu, thì ở đó sẽ có một thân phận, một con người sắp lìa bỏ cuộc đời. Theo tín hiệu đó, ma sẽ lần đến để chia phần thi thể người xấu số, mà theo cách nói dân gian là đến ăn. Có lẽ vì lý do này mà một số địa phương ở Nghệ Tĩnh gọi cú bằng cái tên khác là "con hót ma". Nhưng rõ là cú chỉ kêu cho ma hưởng phần, chứ bản thân cú nào có được hưởng gì, ăn gì trước cái chết của con người! Cái nghịch lý này được dân gian chớp lấy và khái quát thành cả một thói đời bằng thành ngữ "cú kêu cho ma ăn". Trong tiếng Việt, thành ngữ này để chỉ việc làm vô ích, uổng công, làm cho kẻ khác hưởng.
Trả lời với trích dẫn
Những thành viên đã "Cảm ơn" hoangquangtuan cho bài viết này:
Than Dieu dai Hiep (09-06-2010)
Trả lời

Công cụ bài viết
Kiểu hiển thị

Quyền viết bài
Bạn không thể gửi chủ đề mới
Bạn không thể gửi trả lời
Bạn không thể gửi file đính kèm
Bạn không thể sửa bài viết của mình

BB code đang Mở
Mặt cười đang Mở
[IMG] đang Mở
HTML đang Tắt

Chuyển đến

Chủ đề tương tự
Chủ đề Người khởi xướng chủ đề Diễn đàn Trả lời Bài cuối
Kỹ Thuật Nuôi Chim Yến Hót (Canari) hoangquangtuan Kỹ thuật chăm sóc 1 05-12-2011 12:16 PM
Kỹ thuật nuôi chim cu gáy hoangquangtuan Kỹ thuật chăm sóc 2 04-23-2011 10:21 AM
chim chao mao chaomaolua Kỹ thuật chăm sóc 1 03-20-2011 05:51 AM
Đi tìm con chim là vật tổ của nước Việt DuyQuang Văn - thơ 0 10-10-2010 02:52 PM
Chim việt tại văn miếu hà nội hoangquangtuan Văn - thơ 0 09-14-2010 01:38 PM

 
Thông báo mới
- by admin
- by admin
- by admin
- by admin
- by admin

Advertisement

Partner Links




Múi giờ GMT +8. Hiện tại là 08:34 PM
Sử dụng mã nguồn vBulletin® Phiên bản 3.8.5
BQT không chịu bất cứ trách nhiệm nào từ nội dung bài viết của thành viên.
CLB - Chim cảnh Lan Anh
Địa Chỉ: 12 - Đoàn Thị Điểm - Đà Lạt - Lâm Đồng